Trong khoảng chưa đầy 30 năm đầu
của thế kỷ 20, Khoa học đã được chứng kiến ba chấn động lớn : Vào năm 1905 và
1915 Einstein công bố Thuyết tương đối. Năm 1926, những công trình hoàn chỉnh
đầu tiên của Cơ học lượng tử ra đời, với một số nguyên lý cơ bản, được coi mở
ra một con đường mới, làm biến đổi hình ảnh về Vũ trụ vốn có ở con người
Một cuộc biến
đổi còn triệt để hơn cả sự biến đổi mà cuộc cách mạng Copernic đã tạo ra. đặc
biệt vang dội là Nguyên lý bất định do nhà vật lý người Đức W.
Heisenberg trình bày trong năm 1927, cùng dịp với Đại hội Copenhague, đánh dấu
sự thành lập chính thức Lý thuyết Lượng tử.
Bốn năm sau, năm 1931, Nhà toán học người Áo
Kurt Göđel công bố một định lý làm chấn động Thế giới Toán học, được đánh giá
là kỳ lạ nhất và cũng là bí hiểm nhất trong Toán học. Định lý có nội dung như
sau : Đối với các hệ thống Toán học hình thức hóa với một hệ tiên đề đủ
mạnh, thì, một là, hệ thống đó không thể vừa là nhất quán, vừa là đầy đủ. Hai
là, tính nhất quán của hệ tiên đề không thể được chứng minh bên trong hệ thống
đó.
Khác với hai lý
thuyết Vật lý vừa nêu, định lý Toán học mang tên Kurt Gödel (hay còn
gọi là định lý Bất toàn) không gây ra một không khí xôn xao sâu rộng
như hai thuyết Vật lý cùng thời, và do đó rất ít người biết đến. Vì sao như
vậy? Theo lý giải của nhiều học giả thì trước hết là người ta cho rằng, định lý
Toán học chỉ có giá trị lý thuyết nhiều hơn. Nhưng có lẽ có một lý do khác mà
không ít Nhà toán học không muốn đề cao tầm quan trọng của định lý, bỡi vì
nhưng hệ quả Triết học của nó làm tiêu tan niềm xác tín đầy cao ngạo của họ đối
với vai trò độc tôn của Toán học nói riêng và của Khoa học nới chung.
Với định lý Bất
toàn, thì dù Toán học, xưa nay, vẫn tự hào là một hệ thống lôgic nghiêm ngặt
với một nền tảng vững chắc nhất, cũng phải chịu một qui luật “Có thể sai” như
các Khoa học khác !
Những biến đổi
cách mạng tư duy trong Vật lý học hiện đại xuất phát từ sự thật rằng, không thể
hy vọng đứng bên trong Thế giới duy lý mà biết hết mọi thứ. Thế giới Tự nhiên
quả thực có nhiều thứ lạ lùng hơn mọi điều mà trí tuệ duy lý của chúng ta có
thể nắm bắt được.
Suy rộng định lý
Gödel, ta có thể hiểu là : Bất cứ một lý thuyết nào mà con người xây dựng
nên, đều chỉ phản ảnh một tình huống nhất định của nhận thức. Từ bên trong
một tình huống, không thể hiểu hết mọi chuyện trong tình huống đó, chỉ khi đứng
ngoài tình huống đó thì may ra mới đạt tới một bức tranh sâu rộng hơn để có thể
nhận ra toàn bộ mối quan hệ tạo nên cấu trúc bên trong của nó.
Trong cuộc sống
đời thường, ta thường nghe câu triết lý: “người trong cuộc không sáng suốt
bằng kẻ đứng ngoài cuộc”. Đó là một trải nghiệm xuyên thời gian của Thế
thái nhân tình, nhưng lại có nguồn gốc từ bản thể của Tự nhiên như một hệ quả
Triết học của định lý bất toàn.
Nếu tham vọng
của Nhà toán học vĩ đại Hilbert muốn xây dựng một nền tảng Toán học nhất quán
và phi mâu thuẫn, bị Định lý Gödel làm cho sụp đổ, thì trong công cuộc phát
triển Kinh tế Xã hội, ở thời điểm hiện tại, nếu chưa xác định một cách nhất
quán mô hình của nền kinh tế đất nước, thì việc hoạch định những dự án, dựa
trên cơ sở “tư duy duy lý”, với một tầm nhìn hàng nửa thế kỷ, là một sự lựa
chọn tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất bền vững.
Những bài học
phải trả giá đắt do dự báo sai về tầm nhìn phát triển, mà nhiều Quốc gia đã nếm
trải, là một thực tế không thể không ghi nhớ.
(Theo Chungta.com)
Ghi chú (chủ blog)
- Trong vật lý: ông Einstein theo trường phái xác định. Ông Niels Bohr và W. Heisenberg theo trường phái bất định.
- Trong toán học: Ông Hilbert theo trường phái "nhất quán, phi mâu thuẩn". Ông Kurt Göđel theo trường phái "bất toàn"
Tương tự trong triết học cũng có 2 trường phái "khả tri" và "bất khả tri". Ông Mark không những "khả tri" mà còn muốn "cải tạo" thế giới nữa. Ở Việt Nam nâng cao hơn cả ông Mark là "khả tri", "cải tạo" và "làm chủ" thiên nhiên, xã hội và chính bản thân mình.
Ghi chú (chủ blog)
- Trong vật lý: ông Einstein theo trường phái xác định. Ông Niels Bohr và W. Heisenberg theo trường phái bất định.
- Trong toán học: Ông Hilbert theo trường phái "nhất quán, phi mâu thuẩn". Ông Kurt Göđel theo trường phái "bất toàn"
Tương tự trong triết học cũng có 2 trường phái "khả tri" và "bất khả tri". Ông Mark không những "khả tri" mà còn muốn "cải tạo" thế giới nữa. Ở Việt Nam nâng cao hơn cả ông Mark là "khả tri", "cải tạo" và "làm chủ" thiên nhiên, xã hội và chính bản thân mình.





